Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    LB_tren_song_Hong.jpg LaocaiSapa_5.jpg Hoang_hon_tren_bien.jpg Dan_cong_mo_duong.gif LaocaiSapa_7.jpg Xe_tren_duong_Truong_Son.gif Thuyen_danh_ca.jpg Mat_troi_xuong_bien.jpg Tieu_doi_xe_khong_kinh.gif Ca_Hue.jpg Phim_Chi_Dau.jpg Lao_Hac.jpg Cau_Long_Bien1.jpg Thay_boi_xem_voi1.jpg Ho_Guom_copy.jpg Deo_nhac_cho_meo.jpg Nieu_com_Thach_Sanh.jpg Tang_hoa_thay_giao.jpg So_dua_thoi_sao.jpg Viet_thu_tham_thay_giao_cu.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    đồng hồ

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết > Bài viết >

    Nữ sĩ Xuân Quỳnh: Biết quên mình để làm vợ

    Nữ sĩ Xuân Quỳnh: Biết quên mình để làm vợ

     

     

     

    Nữ sĩ Xuân Quỳnh.

    “Anh không ngủ được ư anh?/Để em mở quạt, quấn mành lên cho” đó là những vần thơ mộc mạc nhưng chứa chất yêu thương trong bài thơ Hát ru chồng những đêm khó ngủ của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Đọc thơ chị càng hiểu và trân trọng hơn tấm lòng của một người phụ nữ nhất mực yêu chồng, một người vợ giàu lòng chung thuỷ và đức hy sinh.

    Từ hồi còn là chiến sĩ Công an trẻ, trong một lần nằm Bệnh viện 367 của Bộ Công an sơ tán ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây, tôi đọc tập thơ Hoa dọc chiến hào của Xuân Quỳnh, nhưng chưa thấm thía mấy. Sau vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng xảy ra năm 1988 tại đầu bờ bắc cầu Phú Lương, tỉnh Hải Dương làm cả gia đình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ ngồi trên ôtô Uoát tức tưởi ra đi, các báo, đài bắt đầu thường bình thơ hoặc phân tích truyện, kịch của anh chị. Vốn là người yêu thơ, tôi và thế hệ chúng tôi biết chị nhiều hơn, ấn tượng “Xuân Quỳnh” kể từ dạo đó.

    Đến nay hết thảy chúng tôi đã trưởng thành, có dịp đọc Tuyển tập thơ của chị, rồi suy ngẫm, rồi chiêm nghiệm, tôi mới nhận ra rằng, chị Xuân Quỳnh là nhà thơ có lời yêu thương chồng đằm thắm và thơm thảo nhất. Tình cảm đó được thể hiện qua bài Hát ru chồng những đêm khó ngủ và bài Mẹ của anh. Nếu nói “hơn lên một tí”, riêng hai bài thơ trên, khi đọc lên, trước những lời thơ tha thiết, lồng lộng đức tính nhân văn, giàu tình hữu ái của con người với con người, tình của người vợ yêu thương chồng sao mà cao đẹp, đằm thắm thế! Lời chị ru sao mà mượt mà, ý nhị và tình cảm đến thế?! Đã từ lâu, nhiều khi nhớ đến, tôi thấy nỗi niềm cứ rưng rưng tự đáy lòng suy tưởng đến những ý tứ của những câu thơ:

    Anh không ngủ được ư anh?
    Để em mở quạt, quấn mành lên cho.
    Lặng sao cái gió đầu hồ,
    Ghét sao cái nắng đầu mùa đã ghê.

    Vâng! Những ai ở miền Bắc mới cảm nhận được đầy đủ cái nắng hạ chói trang, oi bức đến mức nào. Nhất là trong thời kỳ bao cấp, đất nước đang có chiến tranh, sự thiếu thốn vật chất đã rồi, nhà cửa thì chật chội, đồ đạc tuềnh toàng. Sinh hoạt hằng ngày của gia đình đều bó hẹp trong khung hạn định đó. Đôi vợ chồng nào mới cưới, được cơ quan xếp cho căn phòng hạnh phúc độ 10-15m2 đã là “xôm” lắm, mừng quýnh như bắt được vàng. Chúng ta bây giờ nghĩ lại khó hình dung nổi khi mà trong khuôn khổ chật hẹp ấy, mọi thứ cho một gia đình người ta đều thu vén đủ. Vậy mà vẫn còn lối rộng đi lại, chỗ dựng xe đạp cà tàng, chỗ để đun nấu, còn khi ăn cơm thì tót trên giường rồi. Thế thì trong cái nắng đầu hè, cái phòng ở hẹp, cái quạt “con cóc” bé tẹo tuy quay tít đấy, làm sao có thể đủ làm mát được cho cả gian phòng?... Nên không bức bối sao được? Thử hình dung khi chị Xuân Quỳnh “mở quạt”, “vén mành” lên là như để trông chờ vu vơ một cơn gió thổi vào phòng, may ra làm dịu đi cái nắng nóng đầu mùa hạ trong căn phòng chật hẹp. Đó là tấm lòng nhân hậu của người vợ hiền muốn chồng được hạnh phúc sung sướng, được thiên nhiên ban tặng. Nhưng chưa được, chưa có, chị lại tỉ tê như cưng nựng:

    … Ngủ đi em khép cửa phòng
    Để em lên gác em trông xem nào.

    Bây giờ thì trông cái gì đây. Phải chăng vẫn là trông hờ một cơn gió, cơn mưa thần kỳ đột ngột cho trời dịu lại để người chồng mà chị yêu, chị quý trọng đến hết lòng: “Em yêu anh, yêu anh như điên… và Em yêu anh cả khi chết đi rồi” ngủ cho ngon giấc?! Có thể lắm chứ! Trời miền Bắc mùa hè mỗi khi đứng gió, oi ả đến cực cùng rồi thường sau đó hay nổi giông mưa? Nhưng không, bấy giờ thì trời vẫn nóng. Người chồng vẫn trằn trọc, khó ngủ bởi những ưu tư, phiền muộn trăm chiều(?!). Như hiểu được nội tâm và xót thương chồng, thế là bằng chất thơ, chất giọng mát rợi tình chồng vợ chị lại vỗ về ru như lời khuyên nhủ:

    Anh không ngủ được anh yêu?
    Nghe chi cơn lũ đang chiều nước dâng?!
    Ngày mai cây lúa lên đòng,
    Lại xanh như đã từng không mất mùa…
    … Khuya rồi anh hãy ngủ đi
    Để em trở dậy em che bớt đèn.

    Ôi! Cái nghĩa tao khang sao mà sâu đậm. Tình cảm ấy sao mà hạnh phúc. Sao mà đáng nâng niu, trân trọng! Nếu suy tưởng bằng ngôn ngữ điện ảnh qua lời thơ, chúng ta có thể hình dung ra từ nãy giờ chị Xuân Quỳnh như vẫn đang bên chồng để vỗ về… ru cho chồng ngủ, đang phe phẩy quạt nan, nhưng mà đức ông chồng vẫn còn trằn trọc, biết đâu còn làm nũng vợ? Từ sự thương yêu chồng đến vô bờ bến đó mà thành ra chị “ghét cái gió lặng yên, cái ánh đèn hắt sáng”, bởi tất cả đó là nguyên nhân làm cho người chồng mình yêu, mình quý trọng khó ngủ, không ngủ.

    Thực tế cuộc sống cho chúng ta thấy, do không xác định đúng đắn được tình yêu, tình con người, hay nghĩa vợ tình chồng là thiêng liêng, cao quý nên không ít trường hợp những cặp vợ chồng, những gia đình mà người ta gọi là “tế bào của xã hội” còn có những thù tức, cá nhân ích kỷ để nảy sinh những mâu thuẫn trong nội bộ gia đình, gây ra án mạng, thương tích rất đáng tiếc… Hậu quả không chỉ gây ảnh hưởng nhân cách, thuần phong, đạo lý bị xuống cấp, đặc biệt nguy hiểm là từ những mâu thuẫn đó con người đã xâm hại, tổn thương đến sức khỏe, gây thiệt hại nặng nề nếp cuộc sống gia đình, mà còn ảnh hưởng đến lĩnh vực an toàn xã hội, trật tự trong cộng đồng dân cư.

    Nhìn trên phương diện này mà liên tưởng, khi đọc những vần thơ ru chồng của chị Xuân Quỳnh, chúng ta thêm cảm nhận ra đúng nghĩa cuộc sống và hạnh phúc vợ chồng. Được biết chị là người từng trải và đã nếm vị đắng của tình yêu, hạnh phúc khi một lần đổ vỡ nên chị đã: “Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều” (Thơ tình tôi viết, nhưng chị lại là người: “Em biết quên những chuyện đáng quên/ Em biết nhớ những điều em phải nhớ” là bởi: “Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ”?! (Có một thời như thế).

    Dư luận lúc bấy giờ không phải ai cũng hiểu đúng về cuộc hôn nhân Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ. Nhưng trong giới văn nghệ thì đánh giá rất cao trong những năm tháng họ ở bên nhau, Xuân Quỳnh tài hoa, xinh đẹp đã cùng các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (kém chị 4 tuổi) thật sự sống rất hạnh phúc, họ hiểu nhau, cảm thông với nhau, sống trọn vì nhau, cho nhau sau những thiệt thòi, mất mát đã bừng lên trong lĩnh vực sáng tác. Chính vì lẽ đó, anh chị như được chắp cánh nên đã sáng tác rất khỏe và dẻo dai, làm giàu cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật của nước nhà rất lớn bởi một khối lượng kịch và thơ, văn “đồ sộ” được ra đời trong thập niên trước của những năm 80 của thế kỷ trước.

    Có người nói, thơ là muôn nỗi riêng chung của cảm xúc đa chiều khi lòng ta buồn lắng xuống hay rộn lên niềm vui sướng tột cùng. Nói như cố nhà thơ Tố Hữu thì: “Thơ là gan ruột”. Còn Vũ Quần Phương thì miêu tả thật buồn cười: “Thơ như mộc nhĩ khô”, khi ngâm nó sẽ “lượi” ra. Chị Xuân Quỳnh, nếu không có những phẩm chất đó thì làm sao chị có thể cho ra đời hàng loạt bài thơ viết về tình yêu đôi lứa đã tình tứ, sâu đậm chất nhân văn, triết lý tình yêu, tình con người; khi viết về tình cảm của người vợ đối với người chồng càng tỏa sáng tình yêu thương một cách chân thật, còn mãi với thời gian của bao thế hệ, trẻ già đều tâm đắc:

    Chỉ có thuyền mới hiểu
    Biển mênh mang nhường nào,
    Chỉ có biển mới biết
    Thuyền đi đâu, về đâu?!
    ( Thuyền và biển).

    Với tôi, cái hay của Xuân Quỳnh – người vợ còn được thể hiện ở chỗ “yêu chồng nên thương mẹ chồng”, cho dù người đời vẫn còn định kiến: “Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng” (ca dao). Trong bài Mẹ của anh thì dường như hoàn toàn không có ý tứ nào có sự phân biệt “nàng dâu – mẹ chồng”. Thành thực tôi thật sự hài lòng, đồng cảm với kiểu cách Xuân Quỳnh trong ý tứ ứng xử gia đình được thể hiện qua các bài thơ: Thơ viết cho mình và những người con gái khác, Bàn tay em… đặc biệt là trong quan niệm về mẹ chồng làm tôi rất cảm kích:

    Phải đâu Mẹ của riêng anh,
    Mẹ là Mẹ của chúng mình đấy thôi.
    Mẹ tuy không đẻ không nuôi,
    Mà em ơn Mẹ suốt đời chưa xong.

    Đúng là thế đấy! Phải có mẹ chồng rồi mới có chồng mình chứ! Thiết nghĩ, người vợ nào cũng biết hành xử như lời thơ của chị Xuân Quỳnh thì thế giới “đức ông chồng” có làm đến hết đời cũng không trả được hết nghĩa nặng tình sâu của người vợ – người phụ nữ Việt Nam vốn được tôn vinh đảm đang, trung hậu, thủy chung lại biết yêu thương chồng nên quý mẹ. Nếu trên đời này, thế giới đàn ông – thế giới người chồng đều có được những người vợ biết quý trọng mẹ, yêu thương chồng con và mẹ chồng hết mực như thế thì còn gì sung sướng hơn như chị Xuân Quỳnh cắt nghĩa:

    Chắt chiu từ những ngày xa
    Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.

    Tiếc rằng, trong cuộc sống đương đại thường không bằng phẳng một chiều như vậy. Chị Xuân Quỳnh đã mạnh bạo không ngần ngại khi nói lên niềm tự hào của người vợ, người mẹ trong bài Thơ vui cho phái yếu:

    Dẫu là nguyên thủ quốc gia hay là những anh hùng,
    Là Bác học… hay là ai đi nữa,
    Vẫn là con của một người phụ nữ…

    Tại sao chị Xuân Quỳnh lại có được những tình yêu thương đằm thắm, thiết tha như vậy với chồng, với cả mẹ chồng mà không thấy có một sự cách ngăn nào trong các mối quan hệ đó?! Phải khẳng định rằng, để có được phẩm hạnh đó, chị Xuân Quỳnh đã có một cái tâm của người phụ nữ – nhà thơ, của người vợ hiền tôn thờ chồng với một đức tin của một ý thức hệ về tình yêu trong mối quan hệ vợ chồng nồng thắm và mãnh liệt, nếu không dám nói là cực độ:

    Em yêu anh, yêu anh như điên,
    Em viết những bài thơ tình yêu tưởng anh là ý, tứ?
    (Thơ viết cho mình).

    Nhưng rồi chị cũng thấy sự việc đó nó cũng đơn giản, gọn nhẹ mà sâu lắng tận đáy lòng nên có lúc chị đã cất cao tiếng hát về mình:

    Em trở về đúng nghĩa trái tim em,
    Là máu thịt đời thường ai chả có?
    Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa,
    Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.
    (Tự hát).

    Trên thế gian này nếu tất cả “Thế giới phụ nữ – thế giới người vợ” đều có được cốt cách của cái tâm đúng nghĩa với chồng, với con, với gia đình; có đầy đủ những tố chất và phẩm hạnh tốt đẹp của người vợ, người phụ nữ như đức Khổng Tử răn dạy thì cuộc đời này sẽ còn càng thêm ý nghĩa và yêu dấu biết nhường nào?! Và như thế, về mặt trật tự an toàn xã hội, trật tự cộng đồng, trật tự gia đình sẽ hoàn tất không phải là vấn đề đáng lo ngại mà hậu quả phức tạp đáng tiếc lại bắt nguồn từ những người phụ nữ, những người vợ.

    Và, điều nữa tôi cũng nghiệm ra rằng, cũng nếu đúng như lời cụ Nguyễn Du nói về Tài – Mệnh ở trên đời này nếu có, thì âu đó là điềm gở đáng tiếc đã ứng vào chị Xuân Quỳnh – Nhà thơ tình đa tài, đa cảm, đa đoan với cuộc sống, yêu thương con người, yêu thương chồng con đằm thắm nhất nhưng vắn số.

     

    Xuân Quỳnh

            Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Sơn Bình, trong một giai đình công chức. Thuở nhỏ, mồ côi mẹ từ sớm, ở với bà nộị

    Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biêu của thế hệ nhà thơ sinh ở thập kỉ 40 và "rỡ ràng" với những tác phẩm thơ "trẻ" ở thập kỷ 60.

    Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phương diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một người phụ nữ. Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ chữ tình. Đất nước, thiên nhiên, thời đại đều được phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăng kính chữ tình đó.

    Chị đã định hướng dứt khoát cho con đường sự nghiệp của mình: đó là nghiệp thợ Chị quyết định chấm dứt một cuộc hôn nhân mà chị biết là mình đã sai lạc để xây dựng tình yêu và hôn nhân với "chú đại bàng non trẻ" Lưu Quang Vũ mà chị biết chắc trong đó có tình yêu và hạnh phúc đích thực.

    Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng
    Trái tim em, anh đã từng biết đấy
    Anh là người coi thường của cải
    Nên nếu cần, anh bán nó đi ngaỵ..
    (Tự hát).

    Với những dòng thơ sau đây, Xuân Quỳnh thổ lộ tâm tư nhưng chính là để tự khẳng định mình trước một người chồng mà chị biết anh ta vốn không phải là hạng "gà mờ"

    Em trở về đúng nghĩa trái tim em
    Biết khao khát những điều anh mơ ước.
    Biết xúc động qua nhiều nhận thức
    Biết yêu anh và biết được anh yêụ

    Ai quen biết Xuân Quỳnh, hẳn sẽ để ý đến nét khác lạ nơi tay chị: một đôi bàn tay như già hơn khá nhiều so với gương mặt. Một gương mạt xinh đẹp, trẻ hơn tuổi, với cặp mắt tinh anh, duyên dáng, như rất dễ mỉm cười, che hết mọi phiền lọ Gương mặt phụ nữ đẹp đến nỗi khó tin đấy lại là người làm thợ Mà người phụ nữ đẹp và làm thơ ấy lại có đôi bàn tay giống như gương mặt Trương Chi! Chính Xuân Quỳnh đã không ít lần viết về bàn tay mình, ví dụ mấy câu này trong giọng dãi bày với người yêu:

    Bàn tay em ngón chẳng thon dài
    Vệt chai cũ, đường gân xanh vất vả
    Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
    Hái rau dền rau dệu nấu canh
    Tập vá may, tết tóc cho mình
    Rồi úp mặt trên bàn tay khóc mẹ

    Đôi bàn tay tiết lộ số phận. Một số phận đã từng không may mắn, dường như luôn luôn phải "đánh đu" với cuộc sống, với hạnh phúc. Cũng là trớ trêu chăng, con người có số phận như thế lại mang trong mình nhiều khao khát. Trong một bài thơ viết năm 1962, Xuân Quỳnh viết rằng ngày bé mình chỉ mơ đến rằm tháng tám để được vui chơi với bạn bè dưới trăng thụ "Khi lớn khôn ước mơ cùng cháy bỏng": mơ ước "thành nhà thơ ca ngợi cuộc đời", đưa thơ cùng du hành vũ trụ, sưởi ấm vùng trăng lạnh, đưa thơ đi cập bến các vì saọ.. "Như lòng ta chẳng bao giờ nguôi khát vọng - Biết bay rồi ta lại muốn bay cao".

    Giàu trí tuệ, nên cũng như Hồ Xuân Hương xưa kia, Xuân Quỳnh đã đóng vai trò tham mưu đắc lực, đã san sẻ "cái khôn" cho chị em cùng giới, để đối đáp và xử sự với phái mày râu:

    Những cái chính chúng ta thường chả nói
    Mà bọn con gái mình hay nói xấu nhau
    Bọn con trai nghe lỏm đôi câụ..
    Họ khinh chúng ta và lời cửa miệng:
    "Chuyện đàn bà"

    Ta yêu người con trai không phải vì mình
    Mà họ yêu ta vì họ yêu chính họ
    Được yêu hai lần, họ cao lên một bậc
    Ta không được yêu cảm thấy thấp dần đi
    Vì chính ra cũng chẳng yêu tạ..
    (Thơ viết cho mình và những người con gái khác)

    Xuân Quỳnh nhận thức được tính bi kịch vĩnh cửu của cuộc sống: đó là sự ngắn ngủi của đời ngườị Hình như chị còn tiên lượng được số phận của mình: Rất có thể Xuân Quỳnh - đoá hoa quỳnh mùa xuân - sẽ chỉ nở và toả hương được vài giờ trong đêm tối rồi tàn lụị Bởi thế, chị đã sống hối hả, nồng cháy, sống hết mình với cuộc đời, với thơ và tình yêu, với hạnh phúc và gia đình, như sợ tất cả những điều quá ư tốt đẹp ấy sẽ vụt qua như ánh chớp.

    Chi chút thời gian từng phút từng giờ
    Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt
    Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
    Hôm nay non, mai cỏ sẽ già ...
    (Có một thời như thế)

    Chị cũng là người biết giữ gìn và biết tận hưởng hạnh phúc cuộc sống ở mức tối đa có thể được hưởng. Xuân Quỳnh chính là đỉnh cao của những con người "nhân bản chủ nghĩa" thời hiện đạị

    Thơ tình tôi viết cho tôi
    Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều
    Vẫn còn nguyên vẹn niềm yêu
    Như cây tứ quí đất nghèo nở hoạ
    (Thơ tình toi viết).

    Mảng thơ đặc sắc nhất của Xuân Quỳnh chính là mảng thơ về tình yêụ Điều gì đã làm nên sự đặc sắc ấỷ

    Trước hết vì Xuân Quỳnh có một "nhân bản yêu đương" cực kì mãnh liệt, là một người con gái có thể "sống chết vì tình". Dạng phụ nữ như Xuân Quỳnh, đã từng được như thi hào Nguyễn Du mô tả:

    Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan
    Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
    Lại mang lấy một chữ tình
    Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
    Vậy nên những chốn thong dong,
    ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,
    Ma dẫn lối, quỉ đưa đường
    Lại tìm những chốn đoạn trường mà đị..

    Xuân Quỳnh không giấu giếm bản chất ấy của mình:

    ... Nếu tôi yêu được một người
    Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
    Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng...

    Xuân Quỳnh là người hành động nên chị nhất định không chấp nhận kiểu sống "đói lòng ngồi gốc cây sung". Trái lại chị đã "đi khắp chốn tìm người tôi yêu", đồng thời gạt bỏ những gì chỉ là "mạo danh tình yêu". Và khi đã đạt được tình yêu rồi thị chị sống với tất cả chiều sâu thăm thẳm của trái tim:

    ¤i con sóng nhớ bờ
    Ngày đêm không ngủ được
    Lòng em nhớ đến anh
    Cả trong mơ còn thức.
    (Sóng)

    Khi anh nói yêu em, trái tim em đập chừng mạnh qúạ
    Mạnh đến nỗi em tưởng là nghe rõ
    Tiếng tim anh đang đập vì em.
    Em yêu anh, yêu anh như điên ...

    Khác hẳn những người đàn bà "sống trong vương quốc của tình yêu mà không biết được biên giới của vương quốc ấy". Xuân Quỳnh là một phụ nữ không những có khát vọng mà còn có đủ khả năng đi đến tận cùng biên giới và tận cùng đáy sâu của vương quốc tình yêụ Phải chăng ở những điểm tận cùng đó mà những câu thơ tuyệt tác đã ra đời:

    Chỉ có thuyền mới hiểu
    Biển mênh mông nhường nào
    Chỉ có biển mới biết
    Thuyền đi đâu về đâụ

    Ngày nào không gặp nhau
    Biển bạc đầu thương nhớ
    Những ngày không gặp nhau
    Lòng thuyền đau - rạn vỡ...
    (Thuyền và biển).

    Một điều nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh là chị không chỉ yêu say đắm mà còn đặt tình yêu ấy lên ngai vàng của sự tôn thờ tuyệt đốị Xuân Quỳnh rất có lí: ở cõi đời nàỵ Tình yêu chẳng phải là điều thực sự đáng tôn thờ hay saỏ Vả chăng. Xuân quỳnh, bằng tất cả những phẩm chất hội tụ trong con người mình, chị đã đạt được một tình yêu đáng tôn thờ. Người chồng, trong mắt Xuân Quỳnh, lúc nào cũng như một người tình mà chị yêu đắm đuối, cũng cảm thấy như "chàng" có thể vuột khỏi tay:

    Tới thăm anh rồi em lại ra đi
    Đôi mắt lo âu, lời âu yếm xẻ chia
    Lúc anh đến, anh đi thành quá khứ
    Anh thuộc về những người ngoài cánh cửa
    (Thời gian trắng)

    Anh, con đường xa ngái
    Anh, bức vẽ không màu
    Anh, nghìn nỗi lo âu
    Anh, dòng thơ nổi gió...
    Mà em người đời thường
    Biết là anh có ở!
    (Anh)

    Cũng vì tôn thờ tình yêu thái quá, có lúc Xuân Quỳnh đã có linh cảm chẳng lành về hạnh phúc của mình. Thơ tình của chị đã đã đẩy tình yêu lên tầm bi kịch: Tình yêu tuyệt đích có thể sẽ kết thúc cách nào đó thật bất ngờ, trước khi tuổi già sộc đến:

    Đọc bài thơ yêu em thấy sự chia xạ
    Và bỗng nhiên em lại bơ vơ,
    Tay vẫn vụng, trán dô ra như trước...
    (Thơ viết cho mình)

    Nếu từ giã thuyền rồi
    Biển chỉ còn sóng gió
    Nếu phải cách xa anh
    Em chỉ còn bão tố
    (Thuyền và biển)

    Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh thật là nồng nàn, sâu sắc và đượm nỗi thoảng thốt lo âu, tất cả được diễn đạt bằng một ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hầu như không cách điệụ Đó là thứ thơ đạt tới tầm cao của nghệ thuật nhưng vẫn dễ hiểu với đông đảo quần chúng, vẫn có thể gây được những niềm xúc động khác thường:

    Em trở về đúng nghĩa
    Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
    Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
    Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồị

    Và rồi cái điều bất ngờ nhất đã xảy ra với Xuân Quỳnh. Chị qua đời ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Hưng cùng chồng là Lưu Quang Vũ và con trai út Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi) để lại biết bao thương tiếc cho tất cả những ai yêu thơ chị, yêu kịch Lưu Quang Vũ.

    Thế nhưng chính sự kết thúc ấy đã khiến cho tình yêu mà chị tôn thờ trở thành bất tử, đã làm Xuân Quỳnh và Thơ Xuân Quỳnh dường như càng đẹp ngời thêm lên bởi một vừng sáng kì diệu của huyền thoạị



    CÁC TÁC PHẨM CHÍNH:
    THƠ: - Tơ tằm - Chồi biết (In chung)
    - Hoa dọc chiến hào
    - Gió Lào cát trắng
    - Lời ru trên mặt đất
    - Sân ga chiều em đi
    - Tự hát
    - Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học năm 1990 của Hội nhà văn).
    SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI:
    - Cây trong phố - Chờ trăng (tập thơ - In chung)
    - Bầu trời trong qủa trứng (tập thơ - Giải thưởng văn học năm 1982 - 1983 của Hội nhà văn)
    - Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ)
    - Bao giờ con lớn (tập truyện)
    - Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện)
    - Mùa xuân trên cánh đồng (tập truyện)
    - Bến tàu trong thành phố (tập truyện)
    - Vẫn có ông trăng khác (tập truyện)



    Các bài viết liên quan tới nhà thơ Xuân Quỳnh

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thị Nhinh @ 13:49 15/04/2014
    Số lượt xem: 171
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến